LK WEBSITE GIÁO DỤC

LIÊN KẾT WEBSITE

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 31


Hôm nayHôm nay : 72

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 1354

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 152483

LẬP TÀI KHOẢN GỬI TIN BÀI

Trang nhất » Tin Tức » Diễn đàn giáo dục » Trao đổi& Chia sẻ

Góp ý vào Dự thảo Điều lệ trường TH năm 2015

Chủ nhật - 26/07/2015 01:52 | Số lượt đọc: 304
  
 
 
 
 
 GÓP Ý DỰ THẢO ĐIỀU LỆ TRƯỜNG TIỂU HỌC 2015
 
 
            Sau khi đã nghiên cứu kỉ các nội dung được trình bày trong Dự thảo Điều lệ trường TH 2015 của Bộ giáo dục -  Đào tạo. Cán bộ, giáo viên, học sinh trường tiểu học Đức La xin đề nghị ban sọan thảo xem xét chỉnh sửa, thay đổi thêm một số nội dung sau:
1.     Các nội dung đề xuất
           Về tổng quát : Dự thảo Điều lệ lần này chưa có sự thay đổi lớn mang tính đột phá và có tính định hướng cụ thể cho giáo dục bậc Tiểu học trong thời gian tới. Vì thế việc ban hành điều lệ chỉ có tính chất chỉnh sửa một số nội dung nhỏ cho phù hợp với tình hình có chút thay đổi hiện nay nên gây lảng phí lớn cho ngành, cho xã hội, đặc biệt là gây khó khăn cho nhà trường, cán bộ, giáo viên, học sinh. Nội dung định hướng quy chuẩn của Điều lệ hiện hành và Dự thảo hiện này còn có nhiều bất cập hạn chế. Vì thế tuổi thọ của điều lệ ban hành xem ra sẽ rất ngắn thì lại phải tiếp tục thay đổi.
          Đề nghị Ban soạn thảo đánh giá cụ thể những bất cập không hợp lí của Điều lệ hiện nay là ở đâu ? Nêu rỏ định hướng phát triển giáo dục Tiểu học của đất nước trong những năm tiếp theo sẽ đi theo hướng nào ? Điều lệ là văn bản pháp luật quan trọng sau Luật Giáo dục nhưng nhiều trường tiểu học trên cả nước hiện nay  không thực hiện đúng các quy định của Điều lệ,  hàng chục năm nay vẩn được cho tồn tại, vẩn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Vậy các quy định của điều lệ cơ bản không phù hợp với thực tế xã hội, không thực tế với tình hình phát triển đất nước. Các trường vi phạm Điều lệ, vi phạm quy định vẩn tồn tại bình thường nên giá trị điều lệ trong điều chỉnh hoạt động của trường tiểu học là không cao.
          Một số nội dung trong điều lệ còn chồng chéo với các quy định khác của ngành ban hành, hoặc chồng chéo với các quy định khác ccuar pháp luật gây có sự hiểu sai khi thực hiện.
2. Những bất cập cụ thể trong Điều lệ hiện nay và Dự thảo Điều lệ trường Tiểu học năm 2015.
          Điều 17. Lớp học, tổ học sinh, điểm tr­ường
1.Học sinh đ­ược tổ chức theo lớp học. Lớp học có lớp trưởng, lớp phó hoặc chủ tịch, phó chủ tịch hội đồng tự quản học sinh do tập thể học sinh bầu hoặc do giáo viên chủ nhiệm lớp chỉ định luân phiên trong năm học. Mỗi lớp học có không quá 35 học sinh.
          Mỗi lớp không quá 35 học sinh nhưng nếu chỉ có 3 em thì có tổ chức lớp không, Với 34 học sinh nhưng trường vẩn thành lập 2 lớp thì vẫn được vì nằm trông điều kiện cho phép của Điều lệ, Nếu tren 35 học sinh thì vẩn thực hiện bình thường. Một giáo viên dạy 25 em khỏe hơn nhiều dạy lớp có 45 em nhưng lương của giáo viên vẫn như nhau đó cững cho thấy sự bất cập của cả quyền lợi của giáo viên, và quyền học tập của các em.  Vậy quy định này là không khả thi. Chưa chặt chẻ dẫn đến hiệu lực thi hành của điều lệ không cao. Còn cách thức tổ chức lớp học như thế nào do Hiệu trưởng trường TH quyết định dựa trên đặc điểm cụ thể của trường.
  Đề nghị sửa Điều 17 như sau:
           Điều 17. Lớp học, tổ học sinh, điểm tr­ường
1.Học sinh đ­ược tổ chức theo lớp học. Lớp học có lớp trưởng, lớp phó hoặc chủ tịch, phó chủ tịch hội đồng tự quản học sinh do tập thể học sinh bầu hoặc do giáo viên chủ nhiệm lớp chỉ định luân phiên trong năm học, hình thức tổ chức lớp học do Hiệu trưởng quyết định. Mỗi lớp học có số học sinh phù hợp với điều kiện cơ sảo vật chất, thiết bị dạy học nhằm bảo đảm điều kiện để mọi học sinh trong lớp đều được tham gia học tập có chất lượng. Lớp phải đảm bảo điều kiện cho dạy học của giáo viên.
2. Mỗi lớp học chia thành các tổ hoặc ban hoặc nhóm học sinh. Mỗi tổ ban, nhóm có tổ trưởng, tổ phó hoặc trưởng ban, phó ban, nhóm trưởng, thư ký do học sinh trong tổ, ban, nhóm bầu hoặc do giáo viên dạy lớp chỉ định luân phiên trong năm học.
 
Vì giáo viên dạy Tiếng Anh có thể chia lớp thành các nhóm khác nhau, giáo viên dạy hát nhạc, giáo viên dạy thể dục, giáo viên dạy tin học...cũng có phương pháp dạy khác nhau nên cần tổ chức tổ nhóm khác nhau khi dạy học. Trong khi đó học sinh được giáo viên chủ nhiệm phân theo tổ nhóm cố định là bất hợp lí.
          
Điều 20. Hiệu trưởng
1. Hiệu trưởng trư­ờng tiểu học là người chịu trách nhiệm tổ chức, quản lí các hoạt động và chất lượng giáo dục của nhà tr­ường. Hiệu trưởng do Trưởng phòng giáo dục và đào tạo bổ nhiệm đối với trường tiểu học công lập, công nhận đối với trư­ờng tiểu học tư­ thục theo quy trình bổ nhiệm hoặc công nhận Hiệu trưởng của cấp có thẩm quyền
             2. Người được bổ nhiệm hoặc công nhận làm Hiệu trưởng trư­ờng tiểu học phải đạt tiêu chuẩn hiệu trưởng trường tiểu học
          Đề nghị sửa thành:
1. Hiệu trưởng trư­ờng tiểu học là người chịu trách nhiệm tổ chức, quản lí các hoạt động và chất lượng giáo dục của nhà tr­ường. Hiệu trưởng là người do Trưởng phòng giáo dục và đào tạo giới thiệu lên cho UBND cấp huyện xem xét bổ nhiệm đối với trường tiểu học công lập, công nhận đối với trư­ờng tiểu học tư­ thục theo quy trình bổ nhiệm hoặc công nhận Hiệu trưởng của cấp có thẩm quyền
                2 . Người được bổ nhiệm hoặc công nhận làm Hiệu trưởng trư­ờng tiểu học phải đạt chuẩn hiệu trưởng trường tiểu học theo quy định của Bộ trưởng Bộ giáo dục – Đào tạo.
                     Vì Bộ đã ban hành thông tư ghi rỏ như sau:
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
--------
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
----------------
Số: 14/2011/TT-BGDĐT Hà Nội, ngày 08 tháng 4 năm 2011
 
THÔNG TƯ
BAN HÀNH QUY ĐỊNH CHUẨN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG TIỂU HỌC
Điều 27. Chư­ơng trình giáo dục, kế hoạch dạy học
2. Căn cứ vào chương trình giáo dục và kế hoạch thời gian năm học, nhà trường được tự chủ và chịu trách nhiệm giải trình kế hoạch các hoạt động giáo dục phù hợp với tâm lí, sinh lí lứa tuổi học sinh và điều kiện của địa phương, của nhà trường.
     Đề nghị sửa thành:
2. Căn cứ vào chương trình giáo dục và kế hoạch thời gian năm học, Hội đồng trường tự chủ và chịu trách nhiệm về xây dựng, triển khai thực hiện  kế hoạch các hoạt động giáo dục phù hợp với tâm lí, sinh lí lứa tuổi học sinh và điều kiện của địa phương, của nhà trường.
Điều 28. Sách giáo khoa và tài liệu tham khảo
2. Nhà trường trang bị và chịu trách nhiệm về nội dung các tài liệu tham khảo phục vụ cho hoạt động giảng dạy và nghiên cứu của giáo viên; khuyến khích giáo viên sử dụng tài liệu tham khảo để nâng cao chất lượng giáo dục. Mọi tổ chức, cá nhân không được ép buộc học sinh phải mua tài liệu tham khảo.
         Đề nghị sửa thành:
2. Nhà trường tự trang bị và chịu trách nhiệm về chọn các tài liệu tham khảo phục vụ cho hoạt động giảng dạy và nghiên cứu của giáo viên; khuyến khích giáo viên sử dụng tài liệu tham khảo để nâng cao chất lượng giáo dục. Mọi tổ chức, cá nhân không được ép buộc học sinh phải mua tài liệu tham khảo.
Nôi dung trong tài liệu đã có nhà xuất bản, ban biên tập các tài liệu và các tổ chức nhà nước chịu trách nhiệm. Còn nhà trường chỉ chọn dùng tài liệu nào là được.
 
Điều 30. Hồ sơ phục vụ hoạt động giáo dục trong trư­ờng
Khoản       2. Đối với giáo viên:
     a) Giáo án (bài soạn);
     b) Sổ chuyên môn: (gồm các nội dung theo dõi chất lượng học sinh, dự giờ, ghi chép sinh hoạt chuyên môn) hoặc tách riêng sổ theo dõi chất lượng học sinh;
     c) Sổ chủ nhiệm (đối với giáo viên chủ nhiệm lớp hoặc dùng chung với sổ theo dõi chất lượng học sinh);
c) Sổ công tác Đội (đối với Tổng phụ trách Đội).
Đề nghị sửa thành:
  Khoản  2. Đối với giáo viên:
     a) Giáo án (bài soạn);
     b) Sổ chuyên môn gồm: Sổ chương trình kế hoạch dạy học. Sổ ghi chép nội dung hội họp. Sổ ghi chép kiến thức tự học, bồi dưỡng thường xuyên. Sổ dự giờ.    
c) Sổ chủ nhiệm:
d) Sổ theo dõi chất lượng học sinh.
e) Sổ công tác Đội (đối với Tổng phụ trách Đội).
Bổ sung khoản 4. Các cơ quan, tổ chức, các nhà trường không được tự ý bổ sung các quy định thêm về hờ sơ của nhà trường, giáo viên, tổ chuyên môn trái với quy định tại Điều lệ trường Tiểu học.  
 
       Điều 31. Đánh giá học sinh
       Khoản 2. Học sinh học hết chư­ơng trình tiểu học có đủ điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo được Hiệu trưởng trường tiểu học xác nhận trong học bạ Hoàn thành chương trình tiểu học; kết quả đánh giá của học sinh được tổ chức bàn giao cho trường trung học cơ sở cùng địa bàn.
Đề nghị sửa thành:
Khoản 2. Học sinh học hết chư­ơng trình tiểu học có đủ điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo được Hiệu trưởng trường tiểu học xác nhận trong học bạ Hoàn thành chương trình tiểu học; kết quả đánh giá của học sinh được nhà trường tổ chức bàn giao cho học sinh và báo cáo kết quả cho cấp trên.
Vì trên địa bàn không có trường THCS thì bàn giao cho ai. Việc học trường THCS nào do học sinh, gia đình học sinh tư quyết định.
 
Điều 45. Khen thư­ởng và kỉ luật
2. Đối với học sinh có khuyết điểm trong quá trình học tập và rèn luyện, giáo viên không được công bố tên học sinh trước cả lớp và tuỳ theo mức độ vi phạm có thể thực hiện các biện pháp sau:
a) Nhắc nhở, hỗ trợ giúp đỡ trực tiếp để học sinh tiến bộ hơn;
b) Thông báo với gia đình nhằm giúp đỡ học sinh khắc phục khuyết điểm.
Việc nhắc nhở học sinh là bình thường khi các em vi phạm nhằm giáo dục em đó, đồng thời nhắc nhở các em khác. Chỉ có điều nhắc nhở giáo dục khác với miệt thị, xúc phạm học sinh. Còn nếu giáo dục chỉ có khen mà không có chê thì đến lúc xã hội sẽ loạn. Đó là điều phi giáo dục nhất mà nền giáo dục Việt Nam đang thực hiện. Luôn nhớ rằng phê bình, tự phê bình và tuyên dương khen thưởng là hai mặt của một vấn đề.
 Đề nghị sửa thành:
2. Đối với học sinh có khuyết điểm trong quá trình học tập và rèn luyện, giáo viên không được công bố tên học sinh trước cả lớp và tuỳ theo mức độ vi phạm có thể thực hiện các biện pháp sau:
a) Nhắc nhở, hỗ trợ giúp đỡ trực tiếp để học sinh tiến bộ hơn;
b) Thông báo với gia đình nhằm giúp đỡ học sinh khắc phục khuyết điểm.
Ch­ương VI
TÀI SẢN CỦA NHÀ TRƯỜNG
Điều 46. Trư­ờng học
Có nhiều nội dung rất bất cập và vô lí.
          Khoản 2. Diện tích mặt bằng xây dựng trư­ờng đư­ợc xác định trên cơ sở số lớp, số học sinh và đặc điểm vùng miền với bình quân tối thiểu 10m2 cho một học sinh đối với khu vực nông thôn, miền núi; 6m2 cho một học sinh đối với khu vực thành phố, thị xã. Đối với trường học 2 buổi trong ngày được tăng thêm diện tích để phục vụ các hoạt động giáo dục toàn diện. Mẫu thiết kế tr­ường tiểu học đư­ợc thực hiện cho từng vùng theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Về quy định diện tích mặt bằng thiếu cân cứ thực tiển khi quy định mặt bằng trên đầu học sinh. Ví dụ có trường có 100 học sinh vùng nông thôn vậy với điều kiện quy định chỉ có 1000 mét xuông là đủ thì phòng học , các phòng chức năng thế nào. Số lượng học sinh thay đổi thường xuyên trong khi quỷ đất không thể thay đổi được vậy thì làm sao? Trên thực tế hàng chục năm nay các trường thành phố không bao giờ có đủ diện tích mặt bằng vẩn tồn tại thì sao? Nên quy định theo cơ sỏ kết cấu xây dựng công trình. Sân chơi. Mỗi lớp có 1 phòng học, sân chơi, sân bóng có tiêu chuẩn cả. Diện tích mặt bằng tính trên cơ sở đó thì mới đúng. Mẫu xây dựng theo quy định chung của Bộ thật bất hợp lí. Ví dụ lớp có 14 học sinh cũng học phòng như 45 học sinh. Trường học có 100 học sinh cũng cần xây dựng thư viện xuất sắc với diện tích 120 mét  vuông.
Đề nghị sửa thành:
Khoản 2. Diện tích mặt bằng xây dựng trư­ờng đư­ợc xác định trên cơ sở số lớp, các phòng chức năng, sân chơi, bải tập, phù hợp với thực tế địa phương . Đối với trường học 2 buổi trong ngày được tăng thêm diện tích để phục vụ các hoạt động giáo dục toàn diện. Mẫu thiết kế phù hợp với đặc điểm từng trường cụ thể. Được sự nhất trí, giám sát của cấp quản lí nhà nước, học sinh và giáo viên.  
Khoản 4. Cơ cấu khối công trình
a) Khối phòng học: số phòng học đ­ược xây dựng tư­ơng ứng với số lớp học của trường và đảm bảo mỗi lớp có một phòng học riêng;
b) Khối phòng phục vụ học tập:
- Phòng giáo dục thể chất hoặc nhà đa năng;
- Phòng giáo dục nghệ thuật;
- Phòng học ngoại ngữ;
- Phòng máy tính;
- Phòng hỗ trợ giáo dục học sinh khuyết tật học hoà nhập (nếu có);
- Thư­ viện;
- Phòng thiết bị giáo dục;
- Phòng truyền thống và hoạt động Đội.
- Phòng tham vấn học sinh.
c) Khối phòng hành chính quản trị:
- Phòng Hiệu trưởng, phòng Phó Hiệu trưởng;
- Phòng họp, phòng giáo viên;
- Văn phòng;
- Phòng y tế học đư­ờng;
- Kho;
- Phòng thư­ờng trực, bảo vệ ở gần cổng trư­ờng.
d) Khu nhà ăn, nhà nghỉ đảm bảo điều kiện sức khoẻ cho học sinh học bán trú (nếu có);
e) Khu đất làm sân chơi, sân tập không d­ưới 30% diện tích mặt bằng của trường. Sân chơi phải bằng phẳng, có đồ chơi, thiết bị vận động cho học sinh và cây bóng mát. Sân tập phù hợp và đảm bảo an toàn cho học sinh;
g) Khu vệ sinh dành riêng cho nam, nữ, giáo viên, học sinh; có khu vệ sinh riêng cho học sinh khuyết tật; khu chứa rác và hệ thống cấp thoát n­ước đảm bảo vệ sinh. Khuyến khích xây dựng khu vệ sinh riêng cho mỗi tầng nhà, mỗi dãy phòng học;
h) Khu để xe cho học sinh, giáo viên và nhân viên.
5. Đối với những trường chưa đảm bảo các yêu cầu theo quy định tại Điều này thì Hiệu trưởng nhà tr­ường có trách nhiệm xây dựng kế hoạch cải tạo tr­ường lớp, báo cáo Uỷ ban nhân dân cấp xã, Trưởng phòng giáo dục và đào tạo để trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện giải quyết đối với trường công lập hoặc đề nghị Chủ tịch Hội đồng quản trị giải quyết đối với trường tư thục.
Đề nghị xem xét lại:
Xây thêm phòng - Phòng tham vấn học sinh . Phòng này để làm gì? Đất đâu để vài ba năm trường lại phải xây dựng thêm phòng mới?
Việc xây dựng phòng học, phòng chức năng mà không gắn với chất lượng, công năng và hiệu quả sử dụng của các phòng đó thì chỉ làm thêm gánh năng cho ngân sách, cho dân, lảng phí cho đất nước. Việc quy định xây dựng loạn các phòng theo diều lệ là quá cứng nhắc.
 
Quy định lại như sau.
Khoản 4. Cơ cấu khối công trình
a) Khối phòng học: số phòng học đ­ược xây dựng tư­ơng ứng với số lớp học của trường và đảm bảo mỗi lớp có một phòng học riêng; Phòng học đảm bảo  tốt yêu cầu học tập của học sinh.
b) Khối phòng phục vụ học tập:
- Phòng giáo dục thể chất hoặc nhà đa năng;
- Phòng giáo dục nghệ thuật;
- Phòng học ngoại ngữ;
- Phòng học tin học.
- Phòng hỗ trợ giáo dục học sinh khuyết tật học hoà nhập (nếu có);
- Thư­ viện – phòng đọc.
- Phòng thiết bị giáo dục;
- Phòng truyền thống và hoạt động Đội.
c) Khối phòng hành chính quản trị:
- Phòng Hiệu trưởng, phòng Phó Hiệu trưởng;
- Phòng họp, phòng giáo viên; ( Nếu trường lớn có từ trên 28 lớp)
- Văn phòng;
- Phòng y tế học đư­ờng;
- Phòng thư­ờng trực, bảo vệ ở gần cổng trư­ờng, kho.
d) Khu nhà ăn, nhà nghỉ đảm bảo điều kiện sức khoẻ cho học sinh học bán trú (nếu có);
e) Khu đất làm sân chơi, sân tập. Sân chơi phải bằng phẳng, có đồ chơi, thiết bị vận động cho học sinh và cây bóng mát. Sân tập phù hợp và đảm bảo an toàn cho học sinh;
g) Khu vệ sinh dành riêng cho nam, nữ, giáo viên, học sinh; có khu vệ sinh riêng cho học sinh khuyết tật; khu chứa rác và hệ thống cấp thoát n­ước đảm bảo vệ sinh. Khuyến khích xây dựng khu vệ sinh riêng cho mỗi tầng nhà, mỗi dãy phòng học;
h) Khu để xe cho học sinh, giáo viên và nhân viên.
5. Đối với những trường chưa đảm bảo các yêu cầu theo quy định tại Điều này thì Hiệu trưởng nhà tr­ường có trách nhiệm xây dựng kế hoạch cải tạo tr­ường lớp, báo cáo Uỷ ban nhân dân cấp xã, Trưởng phòng giáo dục và đào tạo để trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện giải quyết đối với trường công lập hoặc đề nghị Chủ tịch Hội đồng quản trị giải quyết đối với trường tư thục.
Ngoài những điều đã đề nghị xem xét chỉnh sửa nói trên. Tất cả các Điều, các khoản còn lại trong Dự thảo Điều lệ trường TH 2015 chúng tôi đều nhất trí cao. Rất momg ban soạn thảo tiếp tục xem xét nghiên cứu  để khi ban hành chất lượng Điều lệ tốt nhất.
                     Đức La, ngày 25 tháng 7 năm 2015
                             T/M BCH CÔNG ĐOÀN
                                 Nguyễn Ngọc Hà

Tác giả bài viết: Ngọc Hà

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn